Archives par mot-clé : Viêt-Nam

Le 4/02/2013 : une journée historique ? – Trao kiến nghị về Hiến pháp

M. Nguyễn Đình Lộc, chef de la délégation et ancien Ministre de la Justice de la RSVN (1992-2002)

Le lundi 4 février à 10 heures du matin, 16 personnalités représentant les quelques 2500 signataires d’une proposition politique relative à la modification de la Constitution de 1992 se sont rendues au bureau de la Commission (37 Hung Vuong, Hanoi) chargée de recueillir les avis de la population. M. Lê Minh Thông, vice-président de la commission juridique de l’Assemblée nationale, rédacteur en chef adjoint des projets d’amendements et compléments à la Constitution de 1992 ainsi que le personnel de la Commission, a rencontré la délégation. Lors de cet échange, les motivations des 16 personnalités ont été exposées de façon directe et explicite. Les propositions politiques énoncées lors de cette rencontre tiennent en quelques idées forces : abandon du “stalinisme-maoïsme”, démocratisation, multipartisme et respect des libertés publiques. Le compte-rendu vietnamien de l’ensemble de la réunion a été mis en ligne sur le Blog Ba Sàm [Commérage, l’Agence d’information du “Café du commerce”].

Si de nombreux citoyens restent septiques quant à la portée véritable de cette consultation populaire orchestrée par le PCV dans le but de modifier la constitution de 1992, des milliers de signataires se sont sincèrement prêtés au jeu considérant que la situation présente du pays sur les plans économiques et géopolitiques nécessitait une réponse forte du pouvoir dans le sens de l’ouverture. L’occasion de peser légalement sur le cours des événements offerte par la consultation populaire est rare et précieuse. L’année du Serpent qui arrive nous dira si cette journée du lundi 4 février 2013 ouvrira ou non une nouvelle ère historique. Quoiqu’il en soit, la démarche volontariste et médiatique de ces intellectuels et anciens responsables politiques est en elle-même une réponse inédite qui se veut fondatrice d’un nouveau Viêt-Nam démocratique et pluraliste, plus respectueux de ses citoyens.

FG, 07/02/2013

Trao kiến nghị về Hiến pháp – 4/02/2013

Membres de la délégation : Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện IDS, Hà Nội; Phan Hồng Giang, TSKH ngành nghiên cứu văn học, Hà Nội; Lê Công Giàu, nguyên Phó Bí thư thường trực Đoàn TNCS HCM – TPHCM, TPHCM; Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ KH & CN, Hà Nội; Phạm Duy Hiển, nguyên Phó Viện trưởng Viện năng lượng nguyên tử Việt Nam, Hà Nội; Vũ Đức Khiển, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Quốc hội, Hà Nội (vắng mặt đột xuất); Tương Lai, nguyên thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội; Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội; Hồ Uy Liêm, nguyên Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội KH & KTVN, Hà Nội; Nguyễn Đình Lộc, nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Hà Nội (Trưởng đoàn); Huỳnh Tấn Mẫm, nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn, TPHCM; Nguyên Ngọc, Nhà văn, Hội An; Hoàng Xuân Phú, GS, Viện Toán học, Hà Nội; Nguyễn Minh Thuyết, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa-Giáo dục & Thanh thiếu niên-Nhi đồng Quốc hội, Hà Nội; Nguyễn Trung, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội; Tô Nhuận Vỹ, Nhà văn, Huế.

Au premier rang, de gauche à droite : Hồ Uy Liêm, Nguyễn Trung, Phạm Chi Lan, Nguyên Ngọc, Nguyễn Đình Lộc, Huỳnh Tấn Mẫm, Tương Lai, Nguyễn Minh Thuyết, Tô Nhuận Vỹ.
Au second rang, de gauche à droite : Lê Công Giàu, Chu Hảo, Nguyễn Quang A, Phạm Duy Hiển, Hoàng Xuân Phú, Phan Hồng Giang. (Ảnh: Lê Kiên).

 

Trao Kiến nghị về Hiến pháp 1

Photo collective des représentants des 2500 signataires.

Trao Kiến nghị về Hiến pháp 2

Arrivée de la délégation au Bureau de la Commission situé au 37 Hung Vuong à Hanoi.

Trao Kiến nghị về Hiến pháp 3

Présentation des participants à la table ronde et début des interventions.

Trao Kiến nghị về Hiến pháp 4

Présentation par le professeur Tuong Lai des changements politiques préconisés par les signataires. Extrait du texte vietnamien de son intervention à la suite de la vidéo.

GS Tương Lai: “Tại sao chúng tôi làm cái việc kiến nghị sửa đổi Hiến pháp và trong một thời gian vắn tập trung cao độ trí tuệ của một nhóm người. Bên cạnh cái kiến nghị là đưa ra một cái dự thảo Hiến pháp mới dựa trên những cái thành tựu mà như là anh Lộc đã trình bày, vượt qua cái thời kỳ, cái tư duy của Stalinit, Maoit về chuyên chính vô sản. Và đã gọi là chuyên chính vô sản thì không thể có một cái Hiến pháp là công cụ của dân để mà kiểm soát nhà nước.

Thực chất Hiến pháp là Bộ luật cơ bản để mà ai kiểm soát ai, là dân kiểm sát cái quyền lực, để dân trao quyền mà không bị mất quyền. Đó là cái bi kịch lớn nhất của loài người từ xưa đến nay mà đến bây giờ vẫn chưa vượt qua được. Nhưng mà dù sao những thành tựu của văn minh nó cũng đã bước những cái bước tiến để nó đạt tới cái chỗ là dân qua công cụ của pháp luật mà trước hết là qua Hiến pháp – cái đạo luật cơ bản mà anh Nguyễn Đình Lộc vừa nói để mà kiểm soát quyền lực của nhà nước, để nhà nước không phải muốn làm gì thì làm mà nhà nước chỉ làm được những cái việc mà luật pháp cho phép, còn dân thì được làm tất cả những việc gì mà luật pháp không cấm. Và như vậy thì không thể có khái niệm về chuyên chính vô sản được, cho nên cái đó phải loại trừ ra khỏi đời sống tinh thần của đất nước thì mới có thể bàn tới chuyện Hiến pháp. Chừng nào còn giữ cái tư duy ấy, chừng ấy không thể có Hiến pháp và mọi cái sự sửa đổi vụn vặt đều trở nên vô nghĩa. Cái tinh thần ấy chính là tinh thần chúng tôi đưa ra trong Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp. Và đó cũng là tinh thần mà trí tuệ dồn vào để đưa ra như là một tài liệu tham khảo về Hiến pháp sắp tới của một nước Việt Nam dân chủ.

Chúng ta đã bao nhiêu núi xương sông máu đổ ra để giành được độc lập, nhưng mà có độc lập mà không có tự do, không có dân chủ, không có hạnh phúc thì độc lập không có ý nghĩa gì. Điều này thì nó trở thành câu nói cửa miệng của mọi người rồi. Nhưng mà trên thực tế chúng ta mới có độc lập nhưng mà chúng ta chưa có dân chủ, chưa có tự do. Trên thực tế cho đến hiện nay là nông dân, bà con Dương Nội vẫn đang ngồi biểu tình và trên những cái video mà phi chính thức đó, ngoài luồng đó thì vẫn thấy là dân… Mặc dầu là trong những cái diễn văn thì chưa bao giờ những cái từ “vì dân”, “phục vụ dân”, “gần dân” nó lại nhiều như bây giờ. Và dân nói là gần dân, phục vụ dân và đừng thụi dân như người ta đang thụi dân trên, ngay cả vấn đề đối với bà con Dương Nội, bà con Văn Giang. Cho nên cái Hiến pháp này tôi đề nghị, nhân ở đây thì đề nghị là các vị ở trong cái … tiếp nhận ý kiến sửa đổi Hiến pháp làm sao để lắng nghe cho được cái tiếng nói của dân. Và trong tiếng nói của dân thì có tiếng nói của cái nhóm trí thức mà chúng tôi đã kiến nghị, thì chúng tôi xin có ý kiến thêm là như vậy.”

Source : Ba Sàm, 05/02/2013

* * *

Trao bản Kiến nghị về sửa đổi Hiến pháp 1992 cho Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992

Hà Nội, ngày 4 tháng 2 năm 2013

Kính gửi: Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992

Chúng tôi, những công dân có tên trong Danh sách kèm theo, đại diện cho 72 người đã trực tiếp ký tên vào KIẾN NGHỊ VỀ SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP 1992 và hàng ngàn người khác đã tham gia ký tên tiếp, hôm nay đến Địa điểm tiếp nhận ý kiến đóng góp của nhân dân tại 37 Hùng Vương Hà Nội, để trao Bản Kiến nghị này cho Quý Ủy ban.

Với tư cách công dân, chúng tôi yêu cầu Quý Ủy ban tiếp nhận bản Kiến nghị và xem xét tiếp thu ý kiến của chúng tôi theo đúng quy định của luật pháp, nhằm cùng toàn dân xây dựng một bản Hiếp pháp sửa đổi thích hợp nhất cho Đất nước trong bối cảnh hiện nay.

Chúng tôi sẵn sàng cử đại diện của mình thảo luận, làm rõ chính kiến của mình trước Quý Ủy ban vào bất kỳ thời điểm nào trước ngày 31 tháng 3 năm 2013.

Trân trọng cám ơn!

T/M những người đại diện

DANH SÁCH ĐOÀN ĐẠI BIỂU ĐI TRAO “KIẾN NGHỊ VỀ DỰ THẢO SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP 1992” CỦA NHÂN SĨ TRÍ THỨC CHO ỦY BAN DỰ THẢO SỬA ĐỔI HIẾN PHÁP CỦA QUỐC HỘI

(Hà Nội ngày 4 tháng 2 năm 2013)

  1. Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện IDS, Hà Nội
  2. Phan Hồng Giang, TSKH ngành nghiên cứu văn học, Hà Nội
  3. Lê Công Giàu, nguyên Phó Bí thư thường trực Đoàn TNCS HCM TP HCM, TP HCM
  4. Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ KH&CN, Hà Nội
  5. Phạm Duy Hiển, nguyên Phó Viện trưởng Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam, Hà Nội
  6. Vũ Đức Khiển, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Quốc hội, Hà Nội (vắng mặt đột xuất)
  7. Tương Lai, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, TP HCM
  8. Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội
  9. Hồ Uy Liêm, nguyên Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội KH&KTVN, Hà Nội
  10. Nguyễn Đình Lộc, nguyên Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Hà Nội (Trưởng đoàn)
  11. Huỳnh Tấn Mẫm, nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn, TP HCM
  12. Nguyên Ngọc, nhà văn, Hội An
  13. Hoàng Xuân Phú, GS Viện Toán học, Hà Nội
  14. Nguyễn Minh Thuyết, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa – Giáo dục & Thanh thiếu niên – Nhi đồng Quốc hội, Hà Nội
  15. Nguyễn Trung, nguyên thành viên Ban Nghiên cứu của Thủ trướng Chính phủ, Hà Nội,
  16. Tô Nhuận Vỹ, nhà văn, Huế

Source : Cuu Thieu Sinh Quan Viet Nam

Le constitutionnalisme à la base du nationalisme vietnamien – par Nathalie Catillon

Photo: Nguyễn Quang chụp lại (http://bsdk77.99k.org)

[ndlr] Dans cet article Nathalie Catillon propose un voyage aux sources du nationalisme d’association dans un contexte colonial. Ce nationalisme libéral est incarné par les intellectuels Nguyen Van Vinh à Hanoi et Bui Quang Chieu à Saigon. Dans sa réflexion, l’auteure met en avant les possibilités qu’offraient le “constitutionnalisme” pourtant refusé par la France. Un refus qui poussa immanquablement le nationalisme vers le radicalisme sous sa forme la plus dure : le nationalisme révolutionnaire.

On pourra lire cet article en complément des études historiques de Pierre Brocheux et de Ralph B. Smith sur ce mouvement ainsi que l’ouvrage de Patrice Morlat, Indochine années vingt : Le rendez-vous manqué. Nous remercions Nathalie Catillon de nous avoir autorisé à reproduire son article sur Mémoires d’Indochine.

 

Le constitutionnalisme à la base du nationalisme vietnamien

Nathalie Catillon

 

En dehors de toute considération idéologique, l’histoire de la décolonisation passe avant tout par le refus du gouvernement colonial. La décolonisation est marquée par l’éveil d’une conscience nationale, elle-même signée par la contestation d’un régime où règnent privilèges, inégalités, corruption, et surtout manque de liberté et de droits pour les peuples colonisés. Au XIXème siècle, le Vietnam semble être le seul pays de l’Asie du Sud-Est, non colonisé territorialement. Il faut rappeler que le Vietnam tel que nous le connaissons est relativement récent : c’est en 1802 que le Prince Nguyên Anh s’autoproclame Empereur du pays, créant ainsi le Viêt-Nam et établissant Huê comme capitale. Toutefois, le 18 février 1859, l’arrivée des Français dans le Sud, à Saigon, marque le début de la colonisation française du Vietnam et la naissance de l’Indochine Française.

Lors de la deuxième vague de décolonisation, qui commence dès le début du 20ième siècle. Déjà reconnu intellectuellement, le Vietnam sera fortement influencé par le modèle indien de nationalisme, qui va faire naître un mouvement constitutionnaliste. Le constitutionnalisme en tant que “mouvement”, est basé sur la volonté d’organisation de l’Etat, passant par la ratification d’une Constitution, l’adoption de lois et droits fondamentaux et la création d’un État. Au Vietnam, ce mouvement peut être considéré comme le catalyseur du nationalisme. En effet, le constitutionnalisme proposé par certains intellectuels vietnamiens ne sera accepté par les colons européens, ce qui contribuera à l’émergence d’un mouvement nationaliste. Pour analyser l’impact du premier phénomène sur le second, nous allons développer notre plan de recherche autour d’un question: comment sont arrivés les idées du constitutionnalisme et comment celui ci a-il contribué à l’émergence du nationalisme au Vietnam ?

Dès le fondement de l’Indochine française, l’influence coloniale se fait ressentir. La première faiblesse d’un gouvernement autoritaire est l’éducation; or, l’administration française met en place un système scolaire français, où étudie un bon nombre de jeunes Vietnamiens provenant de familles aisées.

Ces lettrés seront à la base de deux formes de nationalisme au Vietnam. D’un côté, nous avons le nationalisme pro-colonial, c’est-à-dire qui prône une collaboration franco-vietnamienne, et s’installe dans un cadre de partenariat entre le pays libre et son ancien colonisateur; certains auteurs, tels que  Nguyen Van Vinh [1], stipulent que cette forme de nationalisme va permettre de développer un Vietnam moderne. Non seulement cette collaboration permet une modernisation des modes et des niveaux de vie mais elle peut offrir au Vietnam un allié économique important pour son développement économique et son insertion dans le système international. Bien que peu connu, Nguyen Van Vinh fut un des alliés principaux des Français lors de l’ère coloniale : grâce à une série d’articles, cet auteur a tenté d’amorcer cette coopération.

Certains intellectuels vont plus loin, et contribuent à l’émergence un nationaliste plus courant: un nationalisme plus indépendantiste et réformiste. C’est le cas de Bui Quang Chieu, précurseur du mouvement constitutionnaliste. Enfant d’une famille de lettrés, Bui Quang Chieu brille tout de suite dans le système scolaire français à Saigon. Il obtient en 1989, à l’âge de 16 ans, une bourse pour étudier dans le Lycée d’Alger, qui représente son premier contact avec le territoire occidental. Au long de ses études, qu’il poursuit à Paris, Bui Quang Chieu étend ses horizons culturels et scientifiques. Il observe un monde, où, tant le système politique que social, est différent du sien. Au gouvernement colonial et aux manques de libertés et de droits au Vietnam s’oppose une démocratie qui cherche à promouvoir les libertés et droits individuels en Europe. Ces nouvelles idées permettent à cet homme, ainsi qu’à de nombreuses élites ”annamites”, dont Ho Chi Minh (qui viendra faire ses études plus tard en Russie, entre autres), d’observer un écart criant entre la théorie (liberté) et la pratique (colonisation). De retour en Indochine, sa conscience nationale et politique éveillée, il crée la Tribune indigène, journal ou se rassemblent déjà un groupe d’intellectuels. Ce groupe rassemble des intellectuels tels Phan Chau Trinh, et utilisera ses écrits dans un but de propagande. A travers des lettres, pamphlets ou tracts, ils appellent à l’indépendance du pays et tentent d’éveiller une conscience nationale chez un peuple qui a trop longtemps vécu sous l’influence d’autres nations. Alors qu’il devient un homme politique et intellectuel reconnu, Bui Quang Chieu crée, en 1919, le ”Parti Constitutionnaliste Indochinois”.

Ce dernier était également un défenseur invétéré d’une collaboration. Cependant, lors d’un voyage un Inde pour le Congres National Indien, un discours avec Gandhi, symbole du mouvement indépendantiste indien, va lui donner une vision plus réformiste du nationalisme. De retour à son pays, cet homme lance avec l’appui d’autres intellectuels, tels Phan Châu Trinh et Phan Bội Châu un nationalisme plus radical qui fait appel à la libération et à l’indépendance du pays.

Duong Van Giao est également une personnalité intellectuelle célèbre au Vietnam à ce moment, quoique plus jeune. Il subit plus ou moins le même parcours que Bui Quang Chieu, et forge sa conscience politique  lors de ses études à Paris; il rejoint très rapidement les rangs des groupes vietnamiens politisés de la métropole parisienne. Comme pour le mouvement nationaliste philippin en Espagne, les échanges d’idées seront à la base d’un courant nationaliste dans la métropole même du pays colon. Lors du Congrès à Paris, ces deux hommes présentent aux Français les revendications politiques de l’Indochine : grâce à ce mouvement constitutionnaliste, comme l’indique son nom, les lettrés tentent de garder les actions nationalistes dans un cadre légal. Inspirés par le général Albert Sarrault (gouverneur d’Indochine), les constitutionnalistes demandent, sans violence, une libéralisation du pays, toujours dans un cadre de collaboration franco-annamite.

Cependant, bien que les lettrés aient été à la base de ce mouvement nationaliste (grâce à leur éducation et leurs écrits), ils ne parviennent pas à convaincre le gouvernement français du Vietnam. Ce désenchantement amène ces hommes, à radicaliser le mouvement nationaliste dès les années 20 [2]. La presse avait créée le parti en faveur de l’Indépendance, et les réseaux de ces élites éduquées leur procurèrent un appui important de la population. Ce sont ces intellectuels qui ont fondé ce mouvement, devenu véritablement révolutionnaire avec Ho Chi Minh [3]. Bien que plus jeune, cet homme apprend lui aussi les valeurs occidentales démocratiques lors de ses études en France et en Russie, où il connaît également le marxisme et le communisme. Il rejoint ce groupe de Vietnamiens politisés, notamment au sein du Parti Constitutionnaliste Indochinois. Peu d’années plus tard, il crée le Parti Communiste Indochinois en 1930. Cependant, les manifestations sont réprimées, et la collaboration ne semble plus pensable. Le tournant révolutionnaire amène donc Ho Chi Minh, avec le soutien des paysans et d’une grande partie de la population, à fonder la ligue Viêt Minh, qui luttera pour l’indépendance du Vietnam jusqu’en 1975.

Si le mouvement devient radical, il ne faut pas oublier que le début du nationalisme ‘’annamite’’ (vietnamien) fut forgé par un groupe intellectuel [4], qui voyait grâce à son éducation, une possibilité de libéralisation tout en collaborant avec les Français. Les idées acquises lors de leurs échanges à l’extérieur, furent donc à la base de ce courant : la presse et la littérature créèrent le Parti, les réseaux de lettrés générèrent un soutien populaire et les écrits et pamphlets servirent de moyen de propagande et de légitimation.

Puis, si la véritable indépendance du Vietnam se fait en 1975, lorsque les troupes américaines, avouées vaincues, quittent le territoire, un courant intellectuel avait amorcé le mouvement nationaliste presque cent ans plutôt. Le cas du nationalisme vietnamien permet donc de montrer parfaitement comment les intellectuels, dotés de nouvelles idées, sont à la base d’un multi-nationalisme révolutionnaire.

 

Nathalie Catillon

Références

[1] Goscha, Christopher. 2001. « ‘Le barbare moderne’ : Nguyen Van Vinh et la complexité de la modernisation coloniale au Vietnam colonial ». Outre-Mers, Revue d’Histoire, no. 332-333, tome 88, (décembre): 319-46. [Voir la version en langue anglaise en pdf sur le site de Christopher E. Goscha]

[2] Viêt-Nam. En ligne.  HYPERLINK “http://www.memo.fr/Dossier.asp?ID=194″ http://www.memo.fr/Dossier.asp?ID=194 (page consultée le 20 novembre 2009).

[3] Le Jariel, Yves. 2008. Le nationalisme vietnamien avec Ho Chi Minh. Paris: L’Harmattan, Recherches Asiatiques.

[4] Nguyen, Tuan Ngoc. 2004. Socialist Realism in Vietnamese Literature : An analysis of the Relationship Between Literature and Politics. Thèse de doctorat. Département de communication, culture et langues. Université de Victoria.

Source : Blogue sur l’Asie du Sud-Est – POL3401

France et Việt-Nam, les réalités d’un dialogue culturel de trois siècles – Nguyễn Thế Anh [1995]

[ndlr] Article publié initialement dans : Universités francophones, Affaires, Entreprises et Francophonie. Montréal, Editions AUPELF-UREF, 1995, pp. 121-128. Nous remercions vivement le Professeur Nguyên Thê Anh de nous avoir autorisé à reproduire son article sur Mémoires d’Indochine.

France et Việt-Nam, les réalités d’un dialogue culturel de trois siècles

Nguyễn Thế Anh

C’est par l’entremise des missionnaires que la France a découvert le Vietnam au XVIIe siècle. Dès la fondation des Missions étrangères de Paris, ce pays constitue en effet pour celles-ci le terrain de prédilection : tout jeune missionnaire aspire à y aller, dans l’espoir d’y revivre les temps du christianisme originel, celui de l’irrésistible essor de la « vraie religion » malgré la persécution par les autorités. La présence des premiers prêtres des MEP, arrivés sous le déguisement de marchands, prend en 1669 l’apparence d’un comptoir de commerce, afin d’éluder les mesures d’interdiction prises à l’égard de la religion occidentale. Il s’agit là d’une situation des plus précaires ; pour en sortir, la Société imagine de faire intervenir le roi de France. Une « ambassade » débarque en 1682, porteuse de cette lettre de Louis XIV, datée du 10 janvier 1681 :

« … nous avons donné aussitôt nos ordres à la compagnie royale de s’établir dans votre royaume le plus tôt qu’elle pourra, et aux SS. Deydier et De Bourges de demeurer auprès de vous afin d’entretenir une bonne correspondance entre nos sujets et les vôtres, pour nous avertir aussi des occasions qui se pourraient présenter où nous puissions vous donner des marques de notre estime et du désir que nous avons de concourir à votre satisfaction, ainsi qu’à vos avantages. Pour commencer de vous en donner des marques, nous avons commandé qu’on vous portât quelques présents que nous avons cru qui vous seraient agréables ; mais la chose du monde que nous souhaiterions le plus et pour vous et pour vos états, ce serait d’obtenir pour vos sujets qui ont déjà embrassé la loi du vrai Dieu du Ciel et de la Terre, la liberté de la professer, cette loi étant la plus haute, la plus noble, la plus sainte et surtout la plus propre pour faire régner les rois absolument sur les peuples. Nous sommes même très persuadés que si vous connaissiez les vérités et les maximes qu’elle enseigne, vous donneriez le premier à vos sujets le glorieux exemple de l’embrasser ; nous vous souhaitons ce bien incomparable avec un long et heureux règne, et prions Dieu qu’il veuille augmenter votre grandeur avec toute fin heureuse. » [1]

A cette demande de tolérance, le « roi du Tonquin » oppose formellement son refus de la religion importée :

« Votre relation qui vient du pays éloigné de mille stades et qui part du cœur comme un témoignage de votre sincérité, mérite des répétées considérations et des infinies louanges. La politesse envers les étrangers n’est pas une chose extraordinaire à notre pays. Il n’y a pas un étranger qui ne soit bien accueilli par nous. Comment pourrions-nous refuser un homme de France, qui est le plus célèbre des royaumes du monde, et qui par amour pour nous veut nous fréquenter, et nous apporter des marchandises ? Ces sentiments de fidélité et de justice sont vraiment dignes d’applaudissement. Quant à votre désir que nous coopérions à propager votre religion, nous n’osons pas l’admettre, parce qu’il y a une ancienne coutume introduite par des édits qui l’ont défendue formellement. Or, tous édits ne sont promulgués que pour être exécutés avec fidélité, sans fidélité rien n’est établi. Comment pourrions-nous mépriser une coutume bien établie, pour satisfaire une amitié privée ? Aujourd’hui, la France transporte ici ses marchandises pour vendre ou pour échanger, elle pratique la justice par ses richesses et exerce la fidélité par sa corrélation. C’est par là que l’amitié est fondée sur la justice et la fidélité, et ainsi elle peut être durable comme l’or et la pierre. Pourquoi donc est-il nécessaire que nous ayons le même désir ? » [2]

Mgr Pigneau de Béhaine, évêque d’Adran (1741-1799)

L’évangélisation progresse malgré tout. Les missionnaires français ne comptent certes à leur arrivée qu’environ 60 000 chrétiens au lieu des 200 000 annoncés par les jésuites qui les ont précédés. Il n’empêche qu’en 1883, le nombre des chrétiens est estimé à 600 000. Même si la grande majorité de la population n’a pas été touchée, il est indéniable que l’action missionnaire a été couronnée de succès. L’état de guerre opposant depuis le début du XVIIe siècle les deux domaines entre lesquels le Vietnam est divisé, celui des Trịnh au Nord (appelé royaume du Tonkin par les Européens) et celui des Nguyễn au Sud (royaume de Cochinchine), impose une relative ouverture du pays. Les deux belligérants ont en effet besoin de maintenir un certain réseau d’échanges avec l’extérieur afin de se procurer des armes et des munitions, donc d’entretenir des rapports cordiaux avec les puissances maritimes et commerciales. Dans ces conditions, la présence de missionnaires est plutôt considérée comme un atout permettant l’instauration de nécessaires bonnes relations avec l’étranger ; l’action chrétienne est davantage perçue comme susceptible d’affaiblir le camp adverse que de présenter le risque d’une intervention extérieure. Quant à la population, le christianisme a pu apparaître au moins aux couches les plus défavorisées, exclues du système mandarinal comme du système communal d’encadrement et d’expression, comme une accessible solution de rechange à l’ordre sociopolitique existant. II offre bien entendu la perspective de salut individuel à long terme. Mais surtout, il semble constituer là où il s’implante une communauté plus solidaire et plus juste : s’ils ne peuvent protéger du châtiment des autorités, les « pères » étrangers veillent à ce que les plus pauvres soient soutenus et écoutés, et instaurent une organisation socioéconomique manifestement plus bénéfique pour eux. Enfin, ce christianisme ouvre à ses adeptes le champ du vaste savoir énoncé par les missionnaires porteurs de culture et de techniques occidentales, par l’emploi de la langue du pays et l’utilisation de l’écriture romanisée appelée plus tard quốc ngữ (système de transcription inventé par les missionnaires du début du XVIIe siècle et structuré par Alexandre de Rhodes). Cette initiation des prêtres locaux et des catéchistes à un savoir manifestement aussi efficace que celui que les lettrés confucéens, détenteurs du pouvoir, s’attribuent en vertu de leur pratique d’une langue et de textes en chinois classique incompréhensibles au peuple, correspond à l’époque à une sorte de révolution culturelle. Le discours missionnaire renferme cependant des effets extrêmement dissolvants sur le plan politique et social : il ne vise pas à une insertion harmonieuse dans la société, mais véritablement à la construction d’une autre société, la société chrétienne. Les lettrés confucéens par contre, dépositaires d’une conception totalisante et cohérente de l’ordre social dont ils sont les garants et ordonnateurs, ne sauraient souffrir qu’une communauté se particularise à l’intérieur du corps social. La monarchie confucéenne se doit ainsi de contrecarrer le prosélytisme des missionnaires, considéré comme antisocial et subversif. Après 1672, la cessation du conflit armé ayant rendu moins pressants les besoins en matériel de guerre, les autorités vont manifester une hostilité croissante pour les apports du dehors. Si les Nguyễn continuent de ne pas contrarier le commerce extérieur, dont ils font au contraire une large utilisation pour renflouer leurs finances et consolider leur pouvoir, les Trinh ferment de plus en plus leur domaine aux mouvements des échanges. Les édits de persécution se font plus fréquents au Tonkin (1706, 1712 13, 1721, 1736 37, 1765, 1773), et alors qu’aucun religieux européen n’a été mis à mort au XVIIe siècle, plusieurs missionnaires subissent le martyre au XVIIIe.

Justement, c’est au XVIIIe siècle que les Français accordent une attention plus soutenue à l’Indochine, avec le double objectif d’y développer le prosélytisme catholique et d’y chercher des bases et des débouchés commerciaux. La politique commerciale française restera toutefois toujours floue, velléitaire, sans continuité. La Compagnie française des Indes, qui a en réalité longtemps négligé le pays, lui porte, entre 1740 et 1750, beaucoup d’intérêt. Les expériences tentées par Dupleix et Pierre Poivre, cependant, n’aboutissent pas. Mais, après la guerre de Sept Ans, les succès de l’Angleterre et les échecs coloniaux de la France dans l’Inde provoquent un foisonnement de projets d’installation de comptoirs dans un pays devenu comme la Chine à la mode. Un ancien commerçant de Canton, de Rothé, écrit par exemple dans son mémoire, Réflexions politiques et secrètes sur les royaumes de Cochinchine et du Cambodge (1776) :

« Il semble qu’il ne reste plus que la Cochinchine qui ait échappé à la vigilance des Anglais. S’ils s’y décident avant nous, nous en serons exclus pour jamais, nous aurons perdu un point important dans cette partie de l’Asie, qui nous rendrait les maîtres d’intercepter aux Anglais, en temps de guerre, leur commerce avec la Chine. » [3]

Certains de ces projets reçoivent un commencement d’exécution, mais tous s’arrêtent court, parce que l’argent manque, et que les dirigeants politiques se montrent d’une prudence extrême. Ils témoignent en tout cas de la persistance des visées de la France sur le Vietnam.

L’Empereur Gia Long (1762-1820)

Or, à la suite d’une guerre civile et sociale divisant la Cochinchine dans le dernier quart du XVIIe siècle, un évêque français, Mgr Pigneau de Béhaine, entouré d’un certain nombre de volontaires, va apporter au prince Nguyễn Ánh chassé de ses États, l’aide qui lui manque pour triompher de ses adversaires et offrir ainsi le spectacle d’une première collaboration militaire franco-vietnamienne. Il se rend en 1787 à Versailles pour négocier, au nom de Nguyễn Ánh, un traité d’alliance. La France officielle n’accorde en fait qu’une fourniture de poudre, mais l’évêque d’Adran, décidé à « faire la révolution lui-même en Cochinchine » selon son expression, a fait assez de publicité autour de son entreprise pour que des officiers français viennent chercher aventure auprès de lui. Ils rendent d’importants services : Lebrun dresse les plans d’une nouvelle ville à Saigon et construit des fortifications ; Olivier de Puymanel forme plusieurs régiments d’infanterie à l’européenne ; Jean-Marie Dayot organise une marine moderne, et relève l’hydrographie des côtes cochinchinoises ; Chaigneau lui succède à la tête de la marine, et Barizy se charge des approvisionnements. Quant à Pigneau de Béhaine, son énergie encourage Nguyễn Ánh dans la longue lutte qui doit aboutir à son triomphe définitif et à l’unification du Vietnam tout entier sous sa direction en tant qu’empereur Gia Long.

On ne doit certes pas s’exagérer l’importance de l’apport français dans la reconquête du pouvoir par Nguyễn Ánh, puisque celui-ci, excellent stratège militaire et soutenu par les grands propriétaires fonciers, a déjà repris possession de la région de Saigon avant le retour de Pigneau de Béhaine en 1789. L’évêque d’Adran n’en a pas moins été, par la suite, dépeint comme l’artisan essentiel de l’établissement d’une nouvelle dynastie exerçant son autorité sur un Vietnam réunifié. Il devient une grande figure illustrant la générosité d’une France rétablissant le bon droit du souverain légitime, et la possibilité d’une bonne entente entre l’Église catholique et un pouvoir païen lorsque celui-ci est éclairé. Mais, très vite aussi, une autre représentation s’oppose à cette imagerie, axée sur la démonstration de la collusion entre l’action missionnaire et l’expansionnisme occidental, et de la corrélation entre adhésion au christianisme et appel à l’étranger, avec en touche finale la condamnation du rôle historique des Nguyễn, jugés coupables d’avoir donné au loup colonial l’accès à la bergerie.

Quoi qu’il en ait été de cette prétendue collusion, il reste que les missionnaires, obligés de s’insérer dans le lieu de leur action et de s’adapter aux conditions de la société d’accueil, deviennent en quelque sorte des experts bien au courant des spécificités de cette société. Ils s’imposent naturellement comme des personnages clés des relations interculturelles : ils rendent compte en France des situations locales, et influencent en retour la vision que la France se fait des sociétés asiatiques. A ce titre, ils vont jouer le rôle de guides du pouvoir politique, lorsque l’État français, cédant à leurs instances, décide d’intervenir militairement au Vietnam pour soutenir les intérêts de la religion catholique.

Portrait de l’Empereur Minh Mang (1791-1841) dans l’ouvrage de John Crawfurd (publié en 1828)

Car, les bons rapports entretenus par Gia Long avec l’Occident, qui favorisent un certain développement de la présence française, notamment dans le domaine militaire et religieux, n’ont constitué qu’un éphémère intermède. Sur la fin de son règne, le fondateur de la dynastie des Nguyễn se met d’ailleurs à marquer ses distances à l’égard de ces étrangers qui l’ont aidé à conquérir le pays. Sa mort au début de 1820 marque un changement d’attitude plus net encore vis-à-vis des missionnaires et des chrétiens, avant que la publication en 1833 d’un premier édit de proscription ne vienne inaugurer une dure politique de persécutions religieuses. Les mesures prises ne sont du reste qu’un aspect particulier d’une ligne politique générale placée sous le signe d’une complète identification avec l’idéologie confucéenne et la culture officielle chinoise. Malgré les oppositions internes et les déchirements sociaux qui se manifestent, malgré les indices d’une confrontation imminente avec la culture et les armes occidentales, les successeurs de Gia-Long, loin d’imaginer la faillite du système traditionnel, demeurent confiants dans la supériorité de l’ordre sociopolitique confucéen, persuadés qu’ils tiennent là la seule clé possible de la prospérité, de la pérennité et de l’harmonie sociales. Ce repli sur les traditions explique l’incapacité de la classe dirigeante à concevoir une riposte à la menace croissante que fait peser sur le destin du Vietnam l’intervention française.

Cette intervention s’est étalée sur une vingtaine d’années : la France impose en 1862 son administration directe sur la Cochinchine, et en 1883 son protectorat au reste du pays. Le Vietnam va ainsi rester, selon les lieux, de soixante à quatre-vingts ans sous curatelle française, mais cette période d’administration française, laps de temps bien court en comparaison du millier d’années d’occupation chinoise au début de l’histoire du pays, n’en a pas été moins décisive pour son évolution. A bien des égards, les transformations imposées par la colonisation ont été brutales. Le territoire vietnamien est divisé en trois entités de statut différent, entre lesquels les liens organiques ne peuvent plus passer que par l’intermédiaire de la puissance protectrice, et englobées avec le Cambodge et le Laos dans une fédération politique et économique, l’Union indochinoise. Une administration coloniale toute en valeur de commandement et d’exécution se substitue progressivement aux anciennes institutions, mises en tutelle ou conservées simplement à titre décoratif, pour effectuer les aménagements qui doivent inaugurer l’ère de l’État moderne. Elle démantèle en premier lieu l’édifice socioculturel traditionnel en vidant de sa substance sa clé de voûte, l’institution monarchique, qui cesse plus ou moins d’être perçue comme l’axe de référence autour duquel s’ordonne la société. Par là même, elle oblige le Vietnam à tourner le dos à la tradition chinoise pour l’ouvrir à l’Occident. La modernité touche tous les domaines, après l’abandon des concours triennaux et de la culture classique. Le nouveau système d’enseignement encourage, à côté de l’étude du français, la pratique de l’écriture romanisée du quốc ngữ, et introduit les éléments de la science occidentale, en même temps que des modes de penser nouveaux. Son développement atteint une dimension culturelle telle qu’il prend un aspect d’interpénétration de civilisations auquel l’élite vietnamienne est restée sensible bien après 1954 encore. Le domaine médical se trouve aussi bouleversé : un important réseau sanitaire est très tôt mis en place et il s’avère d’emblée, avec ses dispensaires, ses hôpitaux, son Institut Pasteur, comme l’un des meilleurs et des plus efficaces de l’Asie. Le paysage socioculturel subit également une profonde modification à la suite des réalisations économiques effectuées.

Sous l’effet de ces différentes transformations, une véritable symbiose culturelle s’opère, surtout chez ceux des Vietnamiens qui croient à la possibilité d’un compromis avec la colonisation pour mettre à jour, en vue de l’émancipation du pays, une voie praticable vers une construction nationale conçue en termes d’État nation à l’image du modèle européen. Persuadés que la supériorité de l’Occident réside dans les effets combinés de son avance scientifique et technique et le dynamisme conféré à ses sociétés par la démocratie politique, ils pensent que la modernisation culturelle, économique et sociale, par la diffusion du progrès, par le développement des activités commerciales et industrielles, par la rupture avec les coutumes archaïques, permettrait d’émanciper 1a société et l’individu du carcan de la tradition confucéenne, de dynamiser ensuite le peuple asservi en lui inculquant une véritable conscience nationale. La tendance dominante va être à l’occidentalisation, plus précisément à la francisation : l’indispensable voyage en Occident doit désormais s’effectuer par le détour par la France, que l’on y vienne faire des études ou se livrer à une activité politique. En 1911, le futur Hồ Chí Minh arrive à Marseille ; en attendant de s’initier quelques années plus tard au communisme à Paris, son premier geste a été de tenter de forcer la porte de l’École Coloniale [4]. Même lorsque la situation coloniale se trouve bloquée par les réticences avec lesquelles les autorités répondent aux demandes de droits politiques, notamment l’accès aux emplois publics et la jouissance de libertés fondamentales, on aura encore propension à porter l’action dans 1a métropole, où on espère être mieux écouté.

En s’installant tout d’abord dans le Sud du pays et en faisant de cette région la pièce maîtresse de son système, la domination française semble cependant avoir contribué à renforcer le poids de cette partie méridionale dans l’équilibre vietnamien. Dans la colonie française de Cochinchine en effet, une élite réduite bénéficie de nombreux privilèges, grâce auxquels ses membres, grands propriétaires fonciers pour la majorité, peuvent acquérir leur savoir-faire et diversifier leurs avoirs. Cette minorité de Cochinchinois, qui ont accès à la nationalité française, qui sont francophones et souvent francophiles, va jouer un rôle politique dans les années quarante et au début des années cinquante, le plus souvent aux côtés des autorités françaises ; elle se démarque du reste de la nation à un point tel qu’elle a pu susciter l’idée d’un particularisme, d’un séparatisme même, cochinchinois. Il est vrai que l’espace national vietnamien, de construction trop récente, ne s’est pas encore vraiment concrétisé à la veille de la colonisation. Mais, malgré les divisions administratives qui semblent vouloir continuer à briser l’unité du pays, l’accroissement de la population, les grands travaux d’infrastructure, les réseaux de transport coloniaux, en changeant l’espace, vont constituer un puissant facteur d’intégration des différentes régions. C’est ainsi que le recensement de 1937 révèle une Cochinchine infiniment plus vietnamienne qu’elle ne l’était en 1860. Ce renforcement de l’espace national vietnamien fait assez tôt prendre conscience qu’un nouveau Vietnam s’est dessiné dans l’Indochine française. Il n’empêche que les apports positifs de l’administration coloniale ont été plus que souvent contestés. Les analyses communistes et nationalistes se sont en général rejointes pour dénoncer l’inspiration et les résultats d’une action inscrite avant tout, pour elles, dans le cadre éminemment suspect de l’exploitation et de la dépendance coloniales. Rien ne serait plus arbitraire, toutefois, que d’exclure du bilan fort contrasté de l’action coloniale les nombreuses réalisations portant la marque d’une inspiration résolument « civilisatrice », qui entend justifier la colonisation par le progrès apporté. Mais, fondamentalement, l’état de dépendance ne peut guère permettre au dossier du colonisateur d’être examiné avec équité. Car, la politique coloniale entend faire de son bilan une justification du droit comme de la pérennité de sa présence et du rapport de domination politique, et cela, il est difficile même aux tenants du nationalisme le plus modéré et le plus disposé à une collaboration sincère et loyale de l’admettre. C’est ce que résume Paul Mus en une formule frappante :

« Le Français voit ce qui a été fait, l’Annamite ce qui ne l’a pas été… En quatre-vingts ans, l’Indochine avait plusieurs fois le temps de devenir un pays moderne ; elle le serait devenue sans la colonisation ; l’Annamite en est convaincu car il l’éprouve dans son vouloir vivre… Si dans ce qui a été fait, il ne voit que le manque de ce qui ne l’a pas été et qui aurait dû l’être, ce n’est pas mauvaise foi ou parti pris, c’est simplement parce que en tant qu’Annamite, il vit dans un monde où se projettent les possibilités d’un Vietnam indépendant, libre de s’industrialiser. » [5]

De cette antinomie foncière découle une incompréhension qui va s’aggravant, à mesure que, devant la montée des forces d’opposition du nationalisme, les autorités coloniales durcissent leur position pour ne pas prendre le risque d’une libéralisation politique. Une guerre de huit ans, provoquée par les mécomptes de la décolonisation, est finalement venue interrompre pour un temps un dialogue culturel qui s’est déroulé en fait sur trois siècles, rarement sans heurts, mais toujours bien passionnant.

Nguyên Thê Anh

 

Indications bibliographiques sommaires

Melanie Beresford, Vietnam. Politics, Economics and Society. London, Pinter, 1988.

Alain Forest & Yoshiharu Tsuboi, Catholicisme et sociétés asiatiques. Paris, L’Harmattan, 1988.

Paul Isoart, Le phénomène national vietnamien. De l’indépendance unitaire à l’indépendance frac¬tionnée. Paris, Lib. Gle de Droit et de jurisprudence, 1961.

Frédéric Mantienne, Monseigneur Pigneau de Béhaine, évêque d’Adran, dignitaire de Cochinchine. Paris, Eglises d’Asie, 1999, 256 p.

David Marr, Vietnamese Tradition under Trial, 1920 1945. Berkeley, Univ. of California Press, 1981.

Nguyên Thê Anh, Monarchie et fait colonial au Vietnam (1875 1925). Le crépuscule d’un ordre tra¬ditionnel. Paris, L’Harmattan, 1992.

Jean Claude Pomonti & Hugues Tertrais, Vietnam, communistes et dragons. Paris, Le Monde Éditions, 1994.

Ralph Smith, Vietnam and the West. London, Heinemann, 1968.

Yoshiharu Tsuboi, L’Empire vietnamien face à la France et à la Chine. Paris, L’Harmattan, 1987.

Alexander Woodside, Community and Revolution in Modern Vietnam. Boston, Houghton Mifflin, 1976.

Notes

[1] Archives des Missions étrangères, série de Siam, vol. 855, reprod. par Frédéric Mantienne, Les Missions françaises et le début du commerce avec le Fleuve Rouge au XVIIe siècle, 1664 1699. Mémoire de DEA de l’EPHE, 1994, pp. 95 98.

[2] Ibid.

[3] E. Gaudart, « Les archives de Pondichéry et les entreprises de la Compagnie française des Indes en Indochine au XVIIIe siècle », Bulletin de la Société des Amis du Vieux Huê, 1937, p. 353.

[4] Voir “Du rêve mandarinal au chemin de la révolution : Hồ Chí Minh et l’Ecole Coloniale”, Parcours d’un historien du Viêt-Nam. Recueil des articles écrits par Nguyễn Thế Anh. Paris, Indes Savantes, 2008, pp. 496-502.

[5] Vietnam. Sociologie d’une guerre. Paris, Le Seuil, 1952.

Những Vấn Đề Việt Nam: 40 Năm Hiệp Định Paris – (27/1/1973 – 27/1/2013)

[ndlr] Interview de Hoang Duc Nha, neveu du Président Nguyen Van Thieu, à la fois secrétaire et attaché de presse du Président de la Seconde République du Viêt-Nam. L’entretien a été réalisé les 25 et 26 janvier 2013 par SBTN pour l’émission “Les questions vietnamiennes” (Những Vấn Đề Việt Nam). Hoang Duc Nha discute avec le journaliste Pham Tran des dessous diplomatiques et politiques menant à l’Accord de Paris de janvier 1973. Il évoque notamment les importantes dissensions entre Washington et Saigon et les conséquences de l’Accord de Paris pour la Seconde République du Viêt-Nam (Sud).

 

Những Vấn Đề Việt Nam: 40 Năm Hiệp Định Paris – (27/1/1973 – 27/1/2013) Phần 1
25/1/2013
Nhà Báo Phạm Trần
Ông Hoàng Đức Nhã, Cựu Tổng Trưởng Dân Vận Chiêu Hồi
Cựu Bí Thư của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu

Những Vấn Đề Việt Nam: 40 Năm Hiệp Định Paris – (27/1/1973 – 27/1/2013) Phần 2
25/1/2013
Nhà Báo Phạm Trần
Ông Hoàng Đức Nhã, Cựu Tổng Trưởng Dân Vận Chiêu Hồi
Cựu Bí Thư của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu

Những Vấn Đề Việt Nam: 40 Năm Hiệp Định Paris – (27/1/1973 – 27/1/2013) Phần 3
26/1/2013
Nhà Báo Phạm Trần
Ông Hoàng Đức Nhã, Cựu Tổng Trưởng Dân Vận Chiêu Hồi
Cựu Bí Thư của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu

Le “quốc ngữ” et l’avènement du Việt Nam – Hoang Thi Phuong

Une classe “Bình dân học vụ”.

[ndlr] Alors que nous avons récemment eu un échange avec un lecteur de Mémoires d’Indochine sur la question du “quốc ngữ” (parlé) et du “chữ quốc ngữ” (écriture), nous proposons cette réflexion de Hoang Thi Phuong sur le processus qui mena à l’adoption de l’écriture romanisée et de sa généralisation avec la Révolution d’août et la campagne d’alphabétisation. Cette appropriation d’une écriture au départ imposée par le système colonial et accompagnée de la disparition des caractères n’est pas sans poser de problème d’un point de vue culturel et identitaire comme le souligne l’auteur en fin d’article. Nous remercions vivement Hoang Thi Phuong et l’AAFV pour leur aimable autorisation pour la reproduction de ce texte sur Mémoires d’Indochine.

[avant-propos de l’AAFV] Cet article a été rédigé par notre amie Hoang Thi Phuong, membre de l’l’Association d’Amitié et de Coopération Vietnam France. Il propose une lecture historique et politique des liens entre écriture, alphabétisation et culture au Vietnam. La suite de cette réflexion consacrée au journalisme, au roman et au théâtre sera publiée dans le prochain numéro de Perspectives.

Le “quốc ngữ” et l’avènement du Việt Nam

Une langue écrite ancienne du vietnamien avait existé, avant la domination chinoise, avant notre ère, les signes, répétitifs, sur les tambours en bronze, les outils en pierre taillée, sur des socs de charrue, sur les flans des montagnes… en témoignent. Dans le but d’anéantir la culture vietnamienne, au début de leur occupation, les chefs militaires chinois Nhâm Diên, Sĩ Nhiếp avaient ordonné à l’époque, la destruction par le feu de tous les écrits. Le ramassage systématique de tous les tambours de bronze en 43 décidé par Mã Viện, comme la destruction des ouvrages écrits par les Minh au 15ème siècle visaient le même objectif.

Aussi pour écrire, les Vietnamiens ont eu recours successivement au :
- chữ Hán, chữ nho – le chinois classique, pendant la domination chinoise (40-938/939)
- chữ nôm : écriture démotique créé par les Vietnamiens sur la base du Hán
-Quốc ngữ, une création d’écriture latinisée, dès le milieu du 16ème siècle pour arriver en 1651 à une forme proche de l’actuelle, grâce aux efforts des évangélisateurs européens notamment portugais, italien et français, dont le but premier était de pouvoir transcrire les textes religieux dans une écriture facilement accessible à la masse.

En 1945, tout de suite après la déclaration de l’Indépendance, le jeune gouvernement de la RDVN se préoccupe de l’éducation. Le Président Hồ Chí Minh avait appelé le peuple entier à s’atteler à trois tâches prioritaires : (diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm)
-  enrayer la famine
-  enrayer l’analphabétisme
-  vaincre les agresseurs étrangers

Dès le lendemain de la Déclaration d’Indépendance, au cours d’une réunion du gouvernement provisoire le 3/9/45, le Président lança une campagne de lutte contre l’analphabétisme : « Un peuple ignorant est un peuple faible. C’est pourquoi je propose d’élargir la campagne de lutte contre l’analphabétisme » proclamait-il.

Quelques 95% de la population vietnamienne d’alors (sur 22 millions d’habitants) ne savaient ni lire, ni écrire. La tâche était de taille. Le choix fut vite décidé. Les Vietnamiens optaient pour le « Quốc ngữ » – écriture nationale.


D’où vient le vietnamien ?

De nombreuses thèses :
- Un vietnamien ancien aurait existé : des recherches auraient établi une écriture capable de transcrire le vietnamien ancien – le Khoa Đẩu – des signes ont été retrouvés sur des vestiges.
- Plus probablement, le vietnamien fait partie du groupe des langues viêt-muong de la branche môn-khmer de la famille des langues austroasiatiques.
- Pendant plus de mille ans de domination chinoise, jusqu’à l’an 938 de notre ère, la seule écriture utilisée au Vietnam était l’écriture idéographique chinoise, chữ Hán/chữ nho, la même que celle pratiquée en Chine à la même époque, mais lu en vietnamien. La langue écrite, en chữ Hán, était exclusivement utilisée dans l’administration et dans la littérature, et n’était maîtrisée que par une infime minorité de la population.

Il se forgeait parallèlement une écriture « phonétique » pour transcrire certains mots du vietnamien (parlé), notamment des noms de lieux, de plantes, d’animaux, etc. À partir de l’indépendance du Vietnam, au 10ème siècle de notre ère, ce système phonétique se formalisa : tout en utilisant des caractères Hán pour transcrire phonétiquement des mots vietnamiens, on créa de nouveaux caractères, toujours basés sur le Hán, pour en traduire d’autres, ce fut la naissance du chữ Nôm – l’écriture du Sud [Nam], méridionale.

Cette forme d’écriture connut son apogée au 18ème siècle, où des œuvres majeures en Nôm furent composées, notamment le très célèbre Kim Vân Kiều de Nguyễn Du. Les empereurs Tây Sơn l’utilisèrent même comme écriture officielle durant leur règne (1788-1802).

Dans le mouvement d’évangélisation de l’Asie et en particulier, du Vietnam, aux 15ème, 16ème et notamment au 17ème siècle, des prêtres jésuites portugais, espagnols, italiens et français, avec une contribution significative des intellectuels vietnamiens ont réussi la transcription du vietnamien oral avec l’alphabet latin, accouplé à un système de signes de tonalité. Un nom est le plus souvent cité, le père jésuite français, Alexandre de Rhodes avec le dictionnaire Dictionarium Annamaticum Lusitinum et Latinum réédité à Rome en 1651. C’est ainsi que naquit le Quốc ngữ, littéralement « écriture nationale ».

Depuis le 20ème siècle et particulièrement depuis la Révolution d’août en 1945, il connut un développement fulgurant et joue un rôle important dans l’avènement du Việt Nam.

L’alphabétisation de tout un peuple devenait ainsi une tâche urgente, s’alignant sur le même front que la lutte contre la famine, la lutte contre l’agression étrangère. Dès le 8 septembre 1945, un décret annonçait la création de Nha Bình dân học vụ – l Service de l’alphabétisation populaire. Le Président de la jeune République lançait un appel pathétique où on lisait : Que ceux qui savent lire enseignent à ceux qui ne le savent pas encore… Que ceux qui ne savent pas encore lire fassent un effort pour apprendre. Si l’épouse ne sait pas lire que le mari se charge de lui le apprendre, de même entre frères et sœurs, aînés et cadets, que les uns enseignent aux autres, si les parents ne savent pas lire que les enfants le leur apprennent… On voyait partout des mots d’ordre : au front, nous combattons pour chasser les agresseurs étrangers, à l’arrière, éliminons l’ignorance… Une personne de plus qui va en classe c’est une pierre de plus pour bâtir notre Indépendance…

Une des tâches urgentes du moment était de relever le niveau culturel du peuple. À l’occasion de la première rentrée scolaire du nouveau régime, dans une lettre adressée à tous les élèves du pays, le Président écrivait : La patrie vietnamienne sera renommée, éclatante ou ne sera pas, le peuple vietnamien pourra-t-il monter sur l’estrade de la gloire pour rivaliser avec les puissances des cinq continents ou non, cela dépendra de vous tous, de votre part importante à l’effort pour l’étude.

Une organisation colossale se mit en place dans tout le pays. Des cours de formation pédagogique express étaient montés. Les enseignants devenaient ainsi militants, soldats d’un front nouveau. En une année, d’août 1945 au 19 août 1946, 95.000 enseignants ont été formés.

Les classes bình dân học vụ étaient données partout où l’on pouvait, dans les maisons communes, les temples, les pagodes, au pied des banians, dans un coin de marché…, pour écrire, c’était de la craie blanche mais aussi des morceaux de charbon, de chaux, de brique fraiche…, comme tableau, les portes, des lits de planche, des cours en brique, tout comme les murailles, des paniers plats, le dos des buffles, tout pouvait faire affaire et contribuait à l’œuvre commune…

Le pays entier était baigné dans ce courant d’alphabétisation « patriotique » si on en croit les slogans qui ornaient le paysage : Aller en cours c’est faire de la Résistance… Quand on apprend à lire, on contribue au succès de la Résistance… chaque classe ‘bình dân học vụ’ c’est un nid de propagande pour la Résistance…

Les résultats ne se firent pas attendre, en novembre 1946, un peu plus d’un an après, quelques 2 500 000 personnes (exactement 2 520 678) étaient alphabétisées.

En fait, l’engouement qui animait chacun était énorme. Le peuple, paysan principalement, venait tout juste de sortir de la longue nuit de l’esclavage, encore tout embué par mille et uns tabous, croyances, rétrogrades, obscurantistes pour beaucoup, les gens s’en donnaient à cœur de joie. D’ailleurs, en même temps avec l’alphabétisation était accouplé la tâche de divulgation, de mise en place d’un mode de vie moderne, littéralement xây dựng nếp sống mới. Et on s’évertuait à créer des ca dao – chant populaire – pour lesquels les Vietnamiens avaient un don tout particulier, les ca dao clamaient les bienfaits du savoir, distillaient des pratiques nouvelles, progressistes, qui incitaient les uns et les autres à rivaliser dans le mouvement.

Les ca dao furent très nombreux et couvraient tous les aspects de la vie quotidienne. Les règles d’hygiène, corporelle, alimentaire, le savoir-vivre dans la famille, en société, le slogan cần, kiệm, liêm, chính (diligence, économie, intégrité, droiture) de l’Oncle Hồ, les techniques de culture, d’élevage, mais aussi les méthodes de lutte appropriée pour chacun dans la Résistance furent les multiples thèmes, utiles et naturels. Ces chants populaires eurent alors un support nouveau, le Quốc ngữ, facilement maîtrisé car trois mois d’étude suffisaient, devenaient des armes d’autant plus redoutables quand ils rencontraient un milieu tout prêt à les accueillir. Ils ensemencèrent des idées, des concepts, des techniques à un rythme défiant toute concurrence.

Classe d’alphabétisation en zone contrôlée par la RDVN en 1953.

J’étais alors en Nouvelle Calédonie, où mes parents étaient travailleurs immigrés dans les mines de l’île. Les Vietnamiens étaient en liesse. Radieux, les uns et les autres se racontaient les bribes de nouvelles de la Révolution d’août qu’ils arrivaient à saisir à la radio. Fini le sort de coolie. Fini l’asservissement. Finis les coups de cravache, les punitions, les suppressions de salaire. La tête haute, ces travailleurs ratatinés, malgré leur jeunesse, la trentaine dans l’ensemble, semblaient métamorphosés. Ils avaient troqué leur condition pour un statut de citoyen libre !

La vie des travailleurs changea de cours : ils s’organisaient pour s’aligner sur les activités mises en place au pays natal. Des cours d’alphabétisation avaient permis à nombre d’entre eux de pouvoir finalement écrire, lire eux-mêmes des lettres à leur père, mère, frères et sœurs au pays. Une vie plus saine, plus rangée dans la perspective d’un rapatriement proche remplaça une vie incertaine, à la dérive, pour la plupart. Des liens de solidarité se multiplièrent.

Partout du Nord au Sud du pays, grâce à la mise en place de cette campagne d’alphabétisation et de construction d’un mode de vie moderne, étaient repoussés les mauvaises habitudes, le vol, le jeu, les coutumes rétrogrades dans les enterrements, les mariages. Un vent de jeunesse soufflait. La vie devenait plus saine, sous tous ses aspects. Là, c’était une classe bình dân học vụ. Ici, on s’entraînait à des exercices d’éducation physique, d’arts martiaux. Là-bas on déchiffrait un document de vulgarisation de techniques culturelles…

Ces activités de diffusion, liées à une organisation efficace du travail des champs, de transport des vivres du grenier du Sud vers le Nord, en 1946, le pays arriva à surmonter la lourde famine de 44, 45 où quelques 2 millions de Vietnamiens décédèrent, privés de nourriture, victimes de politiques inhumaines tant des impérialistes nippons que des colonialistes français.
Comme touché par une baguette magique, le pays entier se transformait.

C’est ainsi que s’organisa la vie de la jeune République et l’inévitable Résistance armée qui se prolongea pendant trente ans.

Le Quốc ngữ

Avec le Hán puis le Nôm, maîtrisés que par une petite minorité, plutôt de milieux aisés, mandarinaux, les créations littéraires étaient très limitées, principalement en vers, la prose seulement avec le Hán.

L’utilisation du Quốc ngữ, obligatoire par un décret colonial de janvier 1882, accompagnée de la rencontre avec la civilisation occidentale, va donner naissance à d’autres genres littéraires. La prose va se développer intensément, du fait du contexte historique du pays. Le journalisme, le roman, le théâtre moderne verront le jour et seront autant d’outils de communication dans le développement de la société comme de la révolution vietnamienne.

Pour apprendre à lire, à écrire le Quốc ngữ , il suffit de trois mois de travail. Cette écriture est la transcription du vietnamien oral, donc une forme développée de langue écrite.

Pour apprendre le Hán, il faut compter des années de travail, on dit qu’il en faut une bonne dizaine et même plus. Car on ne connaît que le mot appris, on ne peut pas former d’autres mots. En plus, les Vietnamiens doivent lire le Hán à la vietnamienne, les réalités vietnamiennes ne sont pas représentées dans cette écriture. Ce qui avait conduit à la création du Nôm.

Dans ses débuts, le Quốc ngữ, purement réservé à la vulgarisation des textes évangéliques chemina lentement durant les 17, 18 et 19ème siècles, car objet de méfiance, de rejet, les religions nouvelles étant très mal accueillies par les pouvoirs impériaux de l’époque et furent douloureusement persécutées.

Au 20ème siècle, des mouvements de vulgarisation à caractère culturel, mais surtout patriotique, politique influèrent fortement sur l’extension de la connaissance du Quốc ngữ. Parmi lesquels on note le rôle de l’école Đông kinh nghĩa thục en 1906, dont l’existence ne dura qu’un peu plus d’un an, car rapidement réprimée par l’administration colonialiste qui y voyait un danger. Établie à Hà Nội, cependant elle aura un retentissement et une influence à l’échelle nationale.

Bien plus tard, les mêmes objectifs furent poursuivis par le Hội Truyền bá quốc ngữ – Association pour la diffusion du Quốc ngữ – créée en 1938.

Đông Kinh nghĩa thục
Dans le but d’éveiller le sentiment patriotique tout en élevant le niveau culturel populaire, un groupe de lettrés avaient créé l’École « Đông Kinh nghĩa thục », une école gratuite, dont le but premier était d’enseigner aux gens la connaissance du « Quốc ngữ », choix délibéré suite à l’intérêt qu’elle présente car « Khỏi đôi đường tiếng, chữ khác nhau. Chữ ta, ta đã thuộc làu., Nói ra nên tiếng, viết câu nên bài. Sẵn cơ sở để khai tâm trí » (Nous n’aurons pas à faire face à cette dualité oral/écrit. Notre écriture, nous la connaissons maintenant parfaitement. Dès qu’on parle on entend notre langue, dès qu’on écrit on crée des textes en notre langue. On a donc ce qu’il faut pour développer l’esprit).

Hội truyền bá quốc ngữ (Association de la diffusion du quốc ngữ)
Avec la fondation du Parti Communiste en 1930, le mouvement de diffusion du Quốc ngữ allait connaître une expansion nouvelle.

Le 25 mai 1938 fut créée l’Association de la diffusion du quốc ngữ avec des noms comme Nguyễn Văn Tố, Bùi Kỷ, Président et Vice-Président, Phan Thanh et Quản Xuân Nam, Secrétaire et Secrétaire-Adjoint, Đặng Thai Mai, Võ Nguyên Giáp, Trésorier et Trésorier-Adjoint, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Văn Huyên, Lê Thước, conseillers. Sa mission était : enseigner aux compatriotes vietnamiens la connaissance du quốc ngữ pour pouvoir lire facilement dans notre langue les informations utiles pour la vie quotidienne.

L’Association se préoccupait de la rédaction d’ouvrages didactiques où sont présentées des notions élémentaires en histoire, géographie, en hygiène, en science… largement diffusés.

Le professeur Hoàng Xuân Hãn, alors professeur au célèbre lycée Bưởi (l’actuel lycée Chu Văn An), en tant que conseiller de l’Association, participe à la commission des manuels scolaires. Il fut l’auteur du célèbre abécédaire d’alors où les lettres de l’alphabet étaient décrites à l’aide des vers « ca dao », ce qui facilite immensément la mémorisation. Le même abécédaire servira plus tard la campagne de « Bình dân học vụ » – alphabétisation populaire en 1945.

La même association sera fondée le 5-1-1939 à Huế, d’autres dans tout le centre jusqu’en 1943. En Cochinchine, la même entité ne sera établie que le 5 novembre 1944.

Ces différents mouvements contribuèrent à étendre la connaissance d’une écriture dont le rôle sera déterminant dans le développement et la lutte pour l’indépendance du pays.

Le journalisme, le roman, le théâtre

Car c’est avec le Quốc ngữ dont l’écriture structurelle simple est facile à apprendre, à lire, à écrire, les écrits en vietnamien moderne en prose virent leur véritable naissance. Par ailleurs la rencontre avec l’Occident avait permis l’arrivée de genres littéraires nouveaux : le journal, le roman, le théâtre moderne.

La mainmise française sur le Việt Nam avait divisé le territoire national en colonie pour le Sud Vietnam – nommée à l’époque la Cochinchine et en protectorat pour le Nord – le Tonkin, et le Centre – l’Annam. Afin de consolider leur pouvoir, l’administration colonialiste avait organisé l’enseignement du Quốc ngữ d’abord en Cochinchine. Et bien après dans le Nord et le Centre. C’est là aussi qu’était créé le premier journal en Quốc ngữ, Gia Định báo, en 1865.

Dans l’histoire journalistique du Việt Nam, le Gia Định báo fut le premier moyen de communication totalement nouveau et deviendra ainsi un moyen tout particulier qui va élargir les possibilités pour diffuser encore plus largement le Quốc ngữ comme les pensées, le savoir, les informations sur ce qui se passait.

En tant que premier journal en langue vietnamienne, il jouait à la fois le rôle de journal officiel pour l’administration coloniale et de presse pour le public avec des informations en tout genre : économique, religieuse, culturelles, sociales… Sous la direction de Trương Vĩnh Ký (Pétrus Ký), le journal va permettre au public d’approcher des études, recherches, des traductions, la poésie, le roman. Trois objectifs étaient poursuivis : faire connaître le Quốc ngữ, encourager des études modernes (sous-entendu des sciences…), encourager le peuple aux études.

Ce qui est à noter c’était le rôle des journaux dans la diffusion des œuvres littéraires : avant d’être imprimées en tant que livres, les créations littéraires étaient d’abord divulguées dans les journaux.

La multiplication des titres journalistiques, mais surtout, l’élargissement territorial, d’abord au Centre, puis particulièrement, au Nord, à Hà Nội, dans les premières décennies du 20ème siècle, dont beaucoup à tendance progressiste. Ce qui va marquer un tournant dans le développement du journalisme, des œuvres littéraires, de l’accès aux savoirs dans tout le pays via une grande extension de l’apprentissage du Quốc ngữ.

Toutefois le développement de cette écriture ne dut son expansion explosive qu’à la Révolution d’août avec la campagne nationale de lutte contre l’analphabétisme, à la décision du gouvernement de la RDVN à l’utilisation obligatoire de la langue vietnamienne et du Quốc ngữ dans l’enseignement à tous les niveaux.

En 2010, le Vietnam commémorait le 65ème anniversaire du Bình dân học vụ. Le pays avait, cette année-là, achevé la tâche d’alphabétisation populaire et généralisé l’enseignement primaire dans tout le pays.

De même que le journalisme se développa le roman et le théâtre moderne. Dès les années 1930, la littérature en Quốc ngữ se développaient rapidement en quantité et en qualité et formait le fondement du roman en prose, de la poésie moderne qui s’affranchissait des règles rigides de la poésie Hán, de la critique littéraire, du théâtre moderne créant les bases de la littérature moderne vietnamienne. On notait particulièrement l’influence du groupe Tự lực văn đoàn, qui créa le roman moderne à l’instar des auteurs occidentaux. On est obligé de reconnaître, en ces débuts du 21ème siècle, le développement éclatant de la littérature des années 1945. On se pose souvent et encore la question : comment se fait-il que des auteurs, jeunes, la majorité avait de 20 à 30ans, ont-ils réussi à créer une époque aussi éblouissante dans la littérature vietnamienne ? Sans aucun doute, parmi les raisons, il y a l’utilisation du Quốc ngữ à la place du Hán ou du Nôm.

On peut en dire autant en ce qui concerne l’Internet, aujourd’hui.

Phổ cập giáo dục – Généraliser l’enseignement primaire


Pourtant, il n’y pas que des avantages

Cette latinisation du vietnamien a malheureusement contribué à couper la langue de son héritage culturel et historique. À l’exception d’une poignée d’intellectuels, plus personne ne connaît aujourd’hui l’écriture qui a été utilisée durant de nombreux siècles. Les Vietnamiens ont été coupés de leur histoire, de leur culture et de leur littérature. Plus aucun Vietnamien ne peut lire aujourd’hui dans leur version originale des œuvres littéraires des siècles passés, ni les innombrables inscriptions qui ornent les pagodes, les temples et les sanctuaires dans les villes et villages du pays. Plus personne ne peut lire les poètes que le pays a produits, ni les annales impériales qui racontent l’histoire du Vietnam. Personne ne peut vérifier ce qu’affirment les historiens contemporains sur l’histoire du pays. Le passé n’est intelligible que par des spécialistes, dont les intellectuels chinois eux-mêmes. De même au niveau des familles, celles qui conservent encore des registres généalogiques ne peuvent pas savoir ce que leurs ancêtres y ont confié sur l’histoire de la famille. C’est ainsi que des familles de l’île de Lý Sơn, au large de Quảng Ngãi, ont découvert par hasard et récemment des documents impériaux chargeant leurs ancêtres de missions dans les Iles Hoàng Sa – alias Paracels.

Ainsi, sur la langue écrite vietnamienne on peut dire que si nous avons les preuves d’une écriture en vietnamien ancien, elle est devenue langue morte il y a bien longtemps. Les écritures utilisées, au fil de l’histoire, le chữ Hán, le chữ Nôm, le Quốc ngữ sont toutes des écritures d’emprunt.

Celle, en cours actuellement, le Quốc ngữ, a accompagné, ces derniers siècles, la lutte, combien difficile, inégale, entre un Việt Nam pauvre, ignorant, face à des géants, à la fois économiquement, intellectuellement, militairement, pour la sauvegarde de son indépendance.

Il nous reste à gagner la bataille de l’acquisition de connaissances scientifiques, économiques, de gestion suffisantes pour assurer à notre peuple un développement vraiment durable, y compris des politiques, stratégies sages afin de conserver notre patrimoine culturel pour les générations futures.

Hoang Thi Phuong, 04/01/2012

Source : Perspectives n°80

L’Accord de Paris sur la cessation de la guerre et le rétablissement de la paix au Sud-Vietnam – Paul Isoart

[ndlr] A l’occasion des 40 ans de la signature des Accords de Paris le 27 janvier 1973, nous proposons au lecteur cette analyse fouillée de Paul Isoart (1931-) parue dans l’Annuaire français de droit international, édité en 1973.

Le Professeur Paul Isoart revient en détail sur le processus qui mena à cet accord historique en y décelant les ambiguïtés, les non-dits, les différentes visions qu’elles soient américaines, du FNL Sud Viêt-Nam, de la RDVN (Hanoi) ou de la RVN (Saigon).

Le 27 janvier 1973 était signé, à Paris, par les ministres des affaires étrangères des États-Unis et de trois gouvernements vietnamiens « l’accord sur la cessation de la guerre et le rétablissement de la paix au Sud-Vietnam ». Ainsi prenait fin officiellement, – s’il faut croire le Président Richard Nixon, « la guerre la plus longue et la plus difficile qu’ait connue l’Amérique », guerre subie par celle-ci « non pour des avantages égoïstes, mais pour aider les autres à résister à l’agression » (1) . Cette affirmation, solennellement proclamée lors de la cérémonie d’investiture du Président au début de son second mandat, n’est que partiellement exacte.

Issue d’un long processus d’intoxication (2) , elle risque de perpétuer dans la péninsule indochinoise une ère d’affrontements armés qu’il est souhaitable, pour tous, de voir définitivement cesser. Si par « intérêts égoïstes », le Président des États-Unis entend faire référence à des intérêts essentiellement matériels il est vrai que l’engagement américain n’a pas eu pour objet de les protéger car, du moins en 1954, ils étaient insignifiants. Peut-on cependant nier que le conflit du Vietnam résulte d’une volonté systématique d’imposer la loi des États-Unis au nom d’un leadership politique hérité de l’histoire ? La lecture des documents publiés, en 1971, par le « New York Times » sous le titre « The Pentagon Papers » est, à cet égard, riche d’enseignements et de révélations. Ce dossier de l’ « histoire secrète » d’une guerre est composé d’éléments extraits d’un rapport de 7 000 pages rédigé de 1967 à 1969 par des spécialistes américains à la demande de M. MacNamara, alors secrétaire d’Etat à la Défense (3).

Lire la suite : Persée  et PDF en ligne

Réf. : Isoart Paul. L’Accord de Paris sur la cessation de la guerre et le rétablissement de la paix au Sud-Vietnam. In: Annuaire français de droit international, volume 18, 1972. pp. 101-121.

* * *

  • Voir aussi la Une du Journal du Dimanche du 28 janvier 1973 : leJDD

28 janvier 1973: La paix au Vietnam signée à Paris

Ancienne puissance coloniale en Indochine devenue Vietnam, la France, où Ho Chi Minh a fait ses études [sic], accueille les parties belligérantes au conflit afin de parapher les accords de paix d’une guerre qui dure depuis dix ans. Les accords de Paris, signés par le Nord-Vietnam et les Etats-Unis entérinent le cessez-le-feu et le retrait des troupes américains dans un délai de 60 jours. En échange, Hanoi s’engage à libérer tous les prisonniers. Les négociateurs en chef sont Lê Duc Tho pour le Vietnam et Henry Kissinger pour la première puissance militaire du monde mise à mal par les combattants vietcong. La guerre entre le Nord et le Sud Vietnam ne s’achèvera qu’en 1975.

  • L’analyse de l’historien Alain Ruscio dans l’Humanité en ligne :

Alain Ruscio, “Il y a quarante ans: les accords 
de Paris sur le Vietnam“, L’Humanité, 25/01/2013.

Le grand compositeur Phạm Duy s’est éteint laissant derrière lui une “oeuvre patrimoniale”

Chợ Neo, 1949 – Phạm Duy, Thái Hằng, một tháng sau ngày cưới
© Pham Duy website

L’information a été divulguée par le poète Do Trung Quan à la BBC [1]. Selon VietNamNet, le grand compositeur Pham Duy est décédé le 27 janvier 2013 à 14h30 à l’âge de 93 ans [2]. Considéré comme un génie de la musique vietnamienne, il fit entrer celle-ci dans la modernité. Après 70 ans d’une carrière musicale exceptionnelle, il laisse à la postérité plus d’un millier de compositions.

Celles-ci démontrent le fort attachement du compositeur à son pays qui, depuis 1942, n’eut de cesse de créer des œuvres musicales reflétant l’évolution du Viêt-Nam en révolution puis plongé dans une guerre fratricide. Tout au long de sa longue carrière, Pham Duy composa, chanta, interpréta mais fit également des recherches en musicologie. Il amena tout un répertoire traditionnel et populaire (âm nhạc cổ truyền, dân ca) dans la nouvelle musique (tân nhạc) qu’il justifiait ainsi : “Je devais commencer ma création par des chansons véhiculant l’esprit du Viêt-Nam et, de plus, avec les ingrédients du Viet-Nam” [3].

Pham Duy naquit le 5 octobre 1921 à Hanoi sous le nom de Pham Duy Can. Il était un des trois fils de l’écrivain Pham Duy Ton (1881-1924), un lettré moderniste réputé pour être le premier “romancier social” de la littérature du XXe siècle [4]. Pendant la guerre d’Indochine, Pham Duy rejoignit le Viêt-Minh “une guitare à la main” puis abandonna les rangs de la résistance afin d’assurer sa propre sécurité, certaines de ces chansons étant jugées trop “sentimentales” [5].

© VietNamNet

En se réfugiant au Sud, il rallia de fait le camp de Saigon pour lequel il continua à composer. Comme des centaines de milliers de Vietnamiens, Pham Duy quitta son pays en 1975 à la suite de la chute de la République du Viêt-Nam. Il composa de nombreuses chansons pour ses compatriotes réfugiés et les boat people. Sa chanson patriotique “Viêt Nam Viêt Nam” fut souvent interprétée dans les spectacles musicaux de la communauté vietnamienne exilée. Il revint régulièrement dans son pays à partir de 2000 avant de s’installer définitivement à Ho Chi Minh-Ville en 2005. Son retour provoqua des débats au Viêt-Nam où une partie de son répertoire musical est toujours considéré comme “réactionnaire”. Il participa alors à de nombreux concerts à Ho Chi Minh-Ville ou Hanoi. Dernièrement très affecté par la mort de son fils aîné Duy Quang (survenue le 19/12/2012) aux États-Unis, sa santé se dégrada, il s’éteignit à l’hôpital un mois après.

L’ensemble de sa création constitue un patrimoine considérable pour la musique vietnamienne du XXe siècle. Une œuvre musicale qui, tour à tour, fut à la fois héroïque, bucolique ou romantique. Les textes de ses chansons forment également un corpus qui mérite d’être étudié en profondeur tant ils épousent le destin du Viêt-Nam au cours du vingtième siècle.

FG, 27/01/2013.

Notes

[1] “Nhạc sĩ Phạm Duy qua đời“, BBC, 27/01/1993.

[2] “Nhạc sĩ Phạm Duy qua đời ở tuổi 93“, VietNamNet, 27/01/1993.

[3] BBC, art. cit.

[4] VietnamNet, art. cit. Voir l’entrée en vietnamien Pham Duy Ton sur Wikipedia.

[5] Mặc Lâm, “Nhạc sĩ Phạm Duy: những bộc bạch cuối đời“, RFA, 23/06/2012.

  • A parcourir : L’album de famille (Tập Ảnh Gia Ðình) sur le site de Pham Duy.
  • A relire : les Mémoires de Pham Duy (Hồi ký Phạm Duy) en 3 volumes sur la période 1945-1975, publiés entre 1989 et 1991 chez Pham Duy Cuong Musical Productions.

 

* * *

Việt Nam Việt Nam – chung khúc trường ca Mẹ Việt Nam của Phạm Duyphần hòa âm của nhạc sĩ Lê Văn Khoa hòa âm Ban hợp xướng Ngàn Khơi trình bày cùng với Festival Orchestra do nhạc trưởng Trần Chúc điều khiển.

* * *

La version traduite en français sur des images extraites d’une ancienne vidéo de Thuy Nga Paris (1987)

Việt Nam Việt Nam – Hợp Ca


VietNam – VietNam – Hop Ca par HongTuyet